thuocsi.vn

Propofol

"Thông tin dược chất
1. Loại thuốc
Thuốc mê, thuốc an thần.
2. Dạng thuốc và hàm lượng:
Nhũ dịch Propofol (Diprivan) để tiêm là một nhũ dịch vô khuẩn, không gây sốt, chứa 10 mg/ml Propofol, thích hợp để dùng đường tĩnh mạch. Cùng với thành phần có hoạt tính Propofol, chế phẩm còn chứa dầu đậu tương, Glycerol, Lecithin từ trứng và Dinatri edetat với Natri hydroxyd để điều chỉnh pH. Nhũ dịch tiêm Propofol đẳng trương, có pH 7 - 8,5. Thuốc dưới dạng ống tiêm 20ml, lọ chứa dung dịch tiêm truyền 50ml hoặc 100ml và những bơm tiêm có sẵn 50ml chứa 10mg/ml Propofol.
3. Dược lý và cơ chế tác dụng:
Nhũ dịch Propofol để tiêm là một thuốc gây ngủ an thần dùng đường tĩnh mạch để khởi mê và duy trì trạng thái mê hoặc an thần. Tiêm tĩnh mạch một liều điều trị Propofol gây ngủ nhanh (kích thích tối thiểu) thường trong vòng 40 giây kể từ lúc bắt đầu tiêm. Cũng như những thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng nhanh khác, nửa đời cân bằng máu - não xấp xỉ 1 đến 3 phút, và điều này được coi là sự khởi mê nhanh.
Tính chất dược lực của Propofol phụ thuộc vào nồng độ điều trị của Propofol trong máu. Nồng độ Propofol trong máu ở trạng thái ổn định thường tỷ lệ với tốc độ tiêm truyền, đặc biệt với từng cá thể người bệnh. Những tác dụng không mong muốn như ức chế tim - hô hấp có thể xảy ra ở những nồng độ trong máu cao hơn do tiêm thuốc nhanh vào tĩnh mạch hoặc tăng nhanh tốc độ tiêm truyền: Phải có một khoảng thời gian thích hợp (3 đến 5 phút) giữa các đợt điều chỉnh liều lượng trên lâm sàng để đánh giá tác dụng của thuốc.
Tác dụng của Propofol trên huyết động thay đổi trong khởi mê. Nếu duy trì thông khí tự nhiên, tác dụng trên tim mạch chủ yếu là giảm huyết áp động mạch, với thay đổi ít hoặc không thay đổi tần số tim và không giảm đáng kể cung lượng tim. Nếu thông khí hỗ trợ hoặc điều khiển (thông khí áp lực dương) mức độ và tỷ lệ giảm cung lượng tim tăng rõ rệt hơn. Việc dùng thêm một thuốc Opioid có tác dụng mạnh (ví dụ Fentanyl) làm thuốc tiền mê sẽ làm giảm hơn nữa cung lượng tim và lực điều khiển hô hấp.
Nếu tiếp tục gây mê bằng tiêm truyền Propofol, sự kích thích do đặt ống nội khí quản và phẫu thuật có thể làm huyết áp động mạch trở về bình thường. Tuy nhiên cung lượng tim có thể vẫn bị giảm. Hiếm thấy sự liên quan giữa Propofol với mức tăng Histamin huyết tương.
Khởi mê bằng Propofol thường kèm theo ngừng thở ở cả người lớn và trẻ em. Trong duy trì mê, Propofol gây giảm thông khí, thường kết hợp với tăng áp suất Carbon dioxyd, có thể rõ rệt tùy thuộc tốc độ cho thuốc và những thuốc khác dùng đồng thời (ví dụ thuốc Opioid, thuốc an thần, v.v...).
Propofol không ảnh hưởng đến tính phản ứng của mạch não đối với những thay đổi áp suất Carbon dioxyd trong động mạch. Việc sử dụng Propofol cũng làm giảm tỷ lệ và mức độ nặng của buồn nôn và nôn sau phẫu thuật.
Ở người lớn, độ thanh thải Propofol thay đổi từ 23 - 50 ml/kg/phút. Thuốc được thải trừ chủ yếu bằng liên hợp thành những chất chuyển hóa không có hoạt tính ở gan và bài tiết qua thận. Khoảng 50% liều thuốc sử dụng là liên hợp Glucuronic. Propofol có thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (tiêm truyền trong 10 ngày) gần bằng 60 lít/kg ở người lớn khỏe mạnh. Nửa đời cuối cùng của Propofol sau đợt tiêm truyền 10 ngày là 1 đến 3 ngày.

Ở người cao tuổi, liều Propofol cần thiết để đạt đỉnh điểm gây mê giảm xuống.

Ở trẻ em, phân bố và thanh thải Propofol tương tự như ở người lớn.

4. Chỉ định
Có thể dùng nhũ dịch tiêm Propofol để khởi mê và/hoặc duy trì mê như là một phần của kỹ thuật gây mê phối hợp trong phẫu thuật ở người bệnh nội trú và ngoại trú, người lớn và trẻ em từ 3 tuổi trở lên.
Có thể dùng nhũ dịch Propofol, tiêm tĩnh mạch theo chỉ dẫn để gây và duy trì an thần - vô cảm có theo dõi bằng Monitor trong quá trình làm thủ thuật chẩn đoán ở người lớn. Cũng có thể dùng thuốc này để gây và duy trì an thần - vô cảm có theo dõi bằng Monitor, kết hợp với gây tê cục bộ hoặc gây tê vùng ở những người bệnh được phẫu thuật.
Chỉ được dùng nhũ dịch tiêm Propofol cho những người lớn được đặt ống nội khí quản, thông khí bằng máy ở đơn vị điều trị tích cực, để gây và duy trì vô cảm liên tục và kiểm soát những phản ứng stress. Trong điều kiện đó, chỉ những người có kinh nghiệm điều trị những người bệnh hồi sức cấp cứu và đã được huấn luyện về phương pháp hồi sức tim mạch và xử lý về hô hấp mới được tiêm thuốc cho người bệnh. Propofol có tác dụng chống nôn trong thời kỳ sau phẫu thuật.
Loại thuốc
Thuốc mê Thuốc an thần
Cảnh báo
*Lưu ý: Tác dụng có thể khác nhau tuỳ cơ địa của người dùng.
Chỉ định

Chống chỉ định
Chống chỉ định

Chống chỉ định tuyệt đối:

Ðã biết có mẫn cảm với nhũ dịch Propofol hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc. Propofol không được khuyến cáo dùng trong sản khoa, bao gồm cả mổ lấy thai. Thuốc qua nhau thai và như các thuốc mê khác, Propofol có thể gây suy sụp ở trẻ sơ sinh.

Propofol không được khuyến cáo dùng để gây mê cho trẻ em dưới 3 tuổi, an thần cho trẻ em ở đơn nguyên tăng cường chăm sóc vì các phản ứng phụ về tim như loạn nhịp chậm, suy cơ tim tuần tiến và tử vong.

Người bị bệnh tim (phân số tống máu dưới 50%) hoặc phổi nặng vì Propofol có thể gây các đáp ứng tim mạch phụ nặng hơn.

Propofol không được dùng trong liệu pháp sốc điện gây co giật.

Người bệnh quá mẫn với Propofol hoặc một thành phần của chế phẩm này.


Chống chỉ định tương đối:

Người bệnh có bệnh tim nặng (phân số tống máu dưới 50%) hoặc bệnh hô hấp, vì Propofol có thể gây những tác dụng không mong muốn về tim mạch nặng hơn.

Người bệnh có tiền sử động kinh hoặc co giật.

Người bệnh có tăng áp lực nội sọ hoặc suy tuần hoàn não, vì có thể xảy ra giảm đáng kể huyết áp động mạch trung bình và tiếp đó giảm áp lực tưới máu não.

Người bệnh có tăng Lipid - huyết, thể hiện ở tăng nồng độ Triglycerid huyết thanh hoặc huyết thanh đục.

Người bệnh hạ huyết áp, giảm lưu lượng tuần hoàn hoặc không ổn định về huyết động.

Người bệnh có bệnh Porphyrin.
Tác dụng phụ
1. Tác dụng không mong muốn (ADR)
Phần lớn những tác dụng không mong muốn do Propofol gây nên ở mức độ nhẹ và có tính chất nhất thời.

Thường gặp, ADR>1/100

Thần kinh trung ương: Chóng mặt, sốt, nhức đầu, cơn động kinh với tư thế người ưỡn cong.

Tim mạch: Hạ huyết áp, nhịp tim chậm.

Hô hấp: Ngừng thở, ho, nhiễm toan hô hấp.

Dạ dày - ruột: Buồn nôn, nôn, co cứng cơ bụng.

Phản vệ: Phản ứng phản vệ.

Thần kinh - cơ và xương: Co giật cơ.

Chuyển hóa: Tăng Lipid huyết.

Khác: Nấc.


Ít gặp, 1/1000< ADR< 1/100

Thần kinh trung ương: Tăng/loạn trương lực, dị cảm, kích động.

Tim mạch: Ngoại tâm thu nhĩ, ngất.

Hô hấp: Thở khò khè, giảm chức năng phổi.

Tiêu hóa: Tăng tiết nước bọt.

Thần kinh - cơ và xương: Ðau cơ.

Da: Ðỏ bừng, ngứa.

Các giác quan: Giảm thị lực.

Tiết niệu - sinh dục: Nước tiểu vẩn đục, nước tiểu màu xanh lá cây.


2. Hướng dẫn cách xử trí ADR
Nếu xảy ra hạ huyết áp hoặc nhịp tim chậm, điều trị bao gồm tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, nâng cao chi dưới, dùng các thuốc nâng huyết áp, hoặc dùng Atropin.
Có thể giảm tối thiểu đau cục bộ nhất thời ở nơi tiêm nhũ dịch Propofol nếu sử dụng những tĩnh mạch lớn ở cẳng tay. Cũng có thể giảm đau khi tiêm tĩnh mạch Propofol bằng cách tiêm tĩnh mạch trước đó Lidocain (1ml dung dịch 1%).
Không được ngừng đột ngột tiêm tĩnh mạch nhũ dịch Propofol.
Lưu ý
Thận trọng

Propofol phải dùng thận trọng đối với người bị giảm thể dịch, động kinh, rối loạn chuyển hóa Lipid và người cao tuổi.

Ở người bệnh cao tuổi hoặc người bệnh suy nhược, không được tiêm nhanh (một liều hoặc những liều nhắc lại) trong khi gây mê, hoặc khi gây an thần vô cảm có theo dõi, để giảm thiểu tác dụng không mong muốn ức chế tim - hô hấp.

Phải dùng liều khởi mê thấp và truyền chậm hơn để duy trì mê ở người bệnh cao tuổi hoặc suy nhược. Phải theo dõi người bệnh liên tục về những dấu hiệu sớm của hạ huyết áp hoặc chậm nhịp tim. Thường xảy ra ngừng thở trong khi khởi mê và ngừng thở có thể kéo dài trong hơn 60 giây, do đó đòi hỏi phải thông khí hỗ trợ.

Khi sử dụng nhũ dịch tiêm Propofol cho người bệnh động kinh, có thể có nguy cơ xảy ra cơn động kinh trong giai đoạn hồi tỉnh. Người bệnh động kinh phải được điều trị tốt trước khi gây mê.

Trong một số trường hợp dùng nhũ dịch tiêm Propofol đã thấy xảy ra chứng rung giật cơ chung quanh thời kỳ phẫu thuật nhưng hiếm có co giật và tư thế người ưỡn cong.

Ngừng thuốc đột ngột có thể làm người bệnh tỉnh quá nhanh, bồn chồn và kích động.

Khi dùng cho người tăng áp lực nội sọ, Propofol phải cho chậm để tránh giảm mạnh huyết áp trung bình và kết quả là giảm áp lực tưới máu não.

Thời kỳ mang thai

Propofol có thể qua nhau thai và gây sự ức chế đối với thai.

Chống chỉ định thuốc này đối với người mang thai.

Thời kỳ cho con bú

Có thông báo là Propofol bài tiết qua sữa nhưng tác dụng do lượng nhỏ Propofol được hấp thụ khi trẻ bú chưa được biết rõ. Chống chỉ định thuốc này đối với người mẹ cho con bú.
Quá liều
Quá liều và xử trí
Nếu xảy ra quá liều, phải ngay lập tức ngừng tiêm Propofol. Quá liều có thể gây ức chế tim - hô hấp, cần điều trị bằng thông khí nhân tạo với oxy. Sự ức chế tim mạch đòi hỏi phải đặt người bệnh ở tư thế chân nâng cao, tăng tốc độ truyền tĩnh mạch, dùng thuốc nâng huyết áp hoặc những thuốc chống tiết Cholin.
Bảo quản
Bảo quản ở nhiệt độ từ 4 - 22 độ C. Không để thuốc đóng băng, tránh ánh sáng, lắc kỹ trước khi dùng.

Khi có Oxygen, Propofol bị thoái biến do bị oxy hóa, và do đó được đóng gói trong khí Nitrogen.
Nếu quên uống thuốc

Chế độ ăn uống

Tương tác
Tương tác thuốc
Có thể giảm liều nhũ dịch tiêm Propofol cần thiết để gây mê ở những người bệnh đã dùng thuốc chuẩn mê tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, đặc biệt đối với thuốc ngủ (ví dụ, Morphin, Pethidin và Fentanyl,...) và đã dùng phối hợp với Opioid và thuốc an thần (ví dụ, Benzodiazepin, Barbiturat, Cloral hydrat, Droperidol,...). Những thuốc này có thể làm tăng tác dụng gây mê hoặc an thần của Propofol và cũng có thể dẫn đến hạ rõ rệt hơn huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và huyết áp động mạch trung bình và cung lượng tim.
Trong khi duy trì mê hoặc an thần, cần điều chỉnh tốc độ tiêm truyền nhũ dịch tiêm Propofol tùy theo mức độ mê hoặc an thần mong muốn, và có thể giảm khi có thuốc giảm đau bổ sung (ví dụ: Nitrogen dioxyd hoặc Opioid). Việc dùng đồng thời những thuốc gây mê hít có tác dụng mạnh (ví dụ: Isofluran, Enfluran, và Halothan) có thể làm tăng tác dụng gây mê hoặc an thần, và tác dụng về tim - hô hấp của Propofol.
Propofol không làm thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về thời gian xuất hiện, cường độ hoặc thời gian kéo dài tác dụng của thuốc phong bế thần kinh - cơ thường dùng (ví dụ: Succinylcholin và những thuốc giãn cơ không khử cực).
Theophylin có thể đối kháng với tác dụng của Propofol, và như vậy cần phải tăng liều Propofol khi dùng đồng thời với Theophylin.

Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...

Danh sách các thuốc có Propofol

Chưa có thuốc dùng hoạt chất này
TOP