Duphalac   Abbot (H/20g) 1Duphalac   Abbot (H/20g) 1
Duphalac   Abbot (H/20g) 2Duphalac   Abbot (H/20g) 2
Duphalac   Abbot (H/20g) 3Duphalac   Abbot (H/20g) 3
Duphalac   Abbot (H/20g) 4Duphalac   Abbot (H/20g) 4

duphalac - abbot (h/20g)

Bán chạy
472 lượt mua sản phẩm
244 lượt xem sản phẩm trong 24 giờ qua

Có thể bạn muốn mua

Quy trình đóng gói
Hộp 20 gói x 15 ml
Nhà cung cấp
Hệ thống sẽ chọn nhà cung cấp tốt nhất cho bạn
Nước sản xuất
Nhóm thuốc
tiêu hóa
Thành phần
TênHàm lượng
Lactulose
Chỉ định

- Điềutrị táo bón, điều hòa nhu động sinh lý củađại tràng- Bệnh não gan.Cơ chế tác dụngDuphalac là một dung dịch dùng uống dùng để điều trị:- Táo bón: Điều hòa nhu động sinh lý của đại tràng.- Được dùng trong các trường hợp mà việc tạo phân mềm được xem là có lợi cho điều trị (bệnh trĩ, hậu phẫu kết tràng/hậu môn).- Bệnh lý não do gan: Điều trị và phòng ngừa hôn mê gan hay tiền hôn mê.Ở đại tràng,lactulosebị hủy bởi các vi khuẩn trong đại tràng thành các acid hữu cơ phân tử thấp. Các acid này dẫn đến làm giảm pH trong lòng đại tràng và nhờ tác dụng thẩm thấu đưa đến tăng thể tích các chất chứa trong đại tràng. Những tác dụng này kích thích nhu động của đại tràng và phục hồi độ chắc của phân. Táo bón được loại trừ và nhịp sinh lý của đại tràng được tái lập.Trong bệnh lý não do hệ cửa (PSE) hoặc (tiền) hôn mê gan, tác dụng này được quy cho sự ngăn chặn các vi khuẩn thủy phân protein bằng cách làm tăng các vi khuẩn ưa acid (ví dụ: lactobacillus), giữ lại các amoniac ở dạng ion bằng cách làm acid hóa các chất chứa trong đại tràng, làm xổ do pH thấp trong đại tràng cũng như do tác dụng thẩm thấu, và làm thay đổi chuyển hóa nitơ của vi khuẩn bằng cách kích thích vi khuẩn sử dụng amoniac để tổng hợp protein của vi khuẩn.Tuy nhiên, trong trường hợp này, người ta đã nhận ra là tăng amoniac đơn thuần không thể giải thích được các biểu hiện thần kinh-tâm thần của bệnh lý não do hệ cửa. Tuy nhiên, amoniac có thể xem như là một chất mẫu đối với các chất chứa nitơ khác.Dược lựcThuốc nhuận trường thẩm thấu, hạ ammoniac huyết.Lactulose bị thủy phân bởi các enzyme của vi khuẩn thành các acide hữu cơ, gây giảm pH ở đoạn giữa của kết tràng. Do sự hấp thu ammoniac ở ruột tăng theo pH, việc pH ở kết tràng giảm dưới tác dụng của lactulose sẽ kéo theo giảm hấp thu ammoniac. pH ở kết tràng giảm do lactulose kéo theo sự khuếch tán của ammoniac từ máu vào ruột. Mặt khác trong môi trường acide, ammoniac ở kết tràng (NH3), là dạng có thể khuếch tán được sẽ chuyển thành muối ammoni (NH4) là dạng không khuếch tán được, điều này sẽ cản trở việc ammoniac phân tán vào máu.Sự acide hóa môi trường trong ruột sẽ làm kích thích nhu động ruột, điều này cho phép đào thải ammoniac ra khỏi cơ thể nhanh hơn.Dược động họcLactulose là một disaccharide tổng hợp. Sau khi uống, chất này đi qua phần trên của ống tiêu hóa mà không bị thay đổi, không bị hấp thu. Ở kết tràng, dưới tác dụng của các vi khuẩn phân giải đường, lactulose được chuyển thành các acide hữu cơ (acide lactique và acide acétique), các chất này sau đó được đào thải qua phân.
- Ðiều trị triệu chứng táo bón.- Bệnh não gan.

Thông tin chung

Hướng dẫn sử dụng


Chỉ định

Phòng bệnh não do gan (tăng Amoni huyết).

Táo bón mạn tính.

Chống chỉ định

Người bệnh có Galactose huyết hoặc chế độ yêu cầu hạn chế Lactose.

Quá mẫn với bất cứ thành phần nào trong chế phẩm.

Cảnh báo

*Lưu ý: Tác dụng có thể khác nhau tuỳ cơ địa của người dùng.

Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ có thể xảy ra: Tiêu chảy, đầy hơi, buồn nôn.

Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào sau đây, ngưng dùng Lactulose và gọi bác sĩ của bạn ngay lập tức: Đau bụng hoặc chuột rút, nôn, tăng Natri huyết.

Tương tác

Không dùng đồng thời với các thuốc nhuận tràng khác, vì gây đại tiện nhiều, làm khó xác định chính xác liều Lactulose cho điều trị bệnh não do gan.

Các thuốc kháng Acid không hấp thu có thể ảnh hưởng tới sự tạo Acid đường ruột của Lactulose.

Một số thuốc kháng khuẩn có thể ảnh hưởng đến hệ vi khuẩn đường ruột giúp chuyển hóa Lactulose, tuy nhiên, Neomycin có thể dùng đồng thời trong điều trị bệnh não do gan.

Bảo quản

Giữ thuốc trong hộp kín, ngoài tầm với của trẻ em. Bảo quản ở nhiệt độ phòng, nơi khô ráo, tránh ánh sáng trực tiếp.

Quá liều

Triệu chứng: Ỉa chảy, đau bụng, nhiễm kiềm do giảm Clor huyết, mất nước, hạ huyết áp, giảm Kali huyết.

Ðiều trị: Không có thuốc giải độc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng.

Dược lý cơ chế

Lactulose là một Disacharid tổng hợp, chứa Galactose và Fructose, được chuyển hóa bởi các vi khuẩn đường ruột thành Acid Lactic và một lượng nhỏ Acid Acetic và Acid Formic. Những Acid này làm giảm pH của phân và chuyển Amoniac (NH3) là dạng khuếch tán sang dạng ion Amoni (NH4 ) không khuếch tán được từ ruột vào máu. Hơn nữa, do môi trường ở ruột có tính Acid hơn ở máu, nên Amoniac có thể khuếch tán từ máu vào ruột, rồi lại chuyển thành ion Amoni không hấp thu được. Kết quả là hàm lượng Amoniac trong máu giảm. Tương tự, sự hấp thu các Amin (cũng tham gia gây bệnh não do gan) có thể cũng giảm.

Nguyên nhân chính gây ngộ độc thần kinh trung ương ở người bị hôn mê do gan là tăng Amoniac trong máu. Do vậy, Lactulose được dùng trong điều trị bệnh não do gan, nhưng cần dùng liều cao. Khoảng 75 - 85% người bệnh có đáp ứng lâm sàng tốt với điều trị Lactulose. Vì Lactulose không gây độc, nên được dùng thay thế cho các kháng sinh như Neomycin, đặc biệt khi cần điều trị lâu hoặc có chống chỉ định với Neomycin. Lactulose không có tác dụng điều trị bệnh não không do Nitrogen như các bệnh não do thuốc hoặc rối loạn chuyển hóa, điện giải. Lactulose không có tác dụng trong điều trị hôn mê có liên quan đến viêm gan nhiễm khuẩn hoặc các rối loạn cấp khác ở gan. Khi tăng Amoniac huyết do rối loạn chuyển hóa bẩm sinh, dùng Lactulose cũng không có tác dụng.

Lactulose có tác dụng thẩm thấu tại chỗ ở đại tràng, nên làm tăng lượng nước trong phân, làm mềm phân và kích thích nhu động ruột. Tác dụng này có thể phải 72 giờ sau khi dùng thuốc. Tuy nhiên, tác dụng nhuận tràng của nó không tốt hơn những thuốc nhuận tràng rẻ tiền khác, như Magnesi sulfat hoặc Sorbitol (những thuốc này ít gây nôn hơn Lactulose).

Dược động học

Lactulose hầu như không được hấp thu ở đường tiêu hóa. Thuốc đến ruột già, chủ yếu ở dạng chưa chuyển hóa. Thuốc được chuyển hóa bởi các vi khuẩn, tạo thành các Acid hữu cơ, chủ yếu là Acid Lactic. Bài tiết qua nước tiểu dưới dạng chưa chuyển hóa khoảng 3% hoặc ít hơn. Thuốc thải trừ chủ yếu qua phân.

Lưu ý

Với người đái tháo đường, vì một lượng nhỏ Lactose và Galactose tự do có trong một số dạng bào chế của thuốc.

Thời kỳ mang thai: Chưa có dấu hiệu thuốc ảnh hưởng tới sinh sản hoặc gây hại cho bào thai.

Thời kỳ cho con bú: Chưa có thông tin.

© Bản quyền thuộc Công Ty TNHH Buymed - 2019