thuocsi.vn
Viagra 50mg Pfizer (H/1v) (Date Cận) 1
* Hình sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian

viagra 50mg pfizer (h/1v) (date cận)

Cận date: 30/06/2021
Hộp 1 vỉ x 1 viên
1 lượt xem200 lượt mua trong 24 giờ qua

Hệ thống sẽ chọn nhà cung cấp tốt nhất cho bạn. Điều Khoản Sử Dụng


Đăng ký bán hàng cùng thuocsi.vnĐăng ký
Nước sản xuất
Thành phần
TênHàm lượng
Sildenafil
Đang cập nhật...

Viagra được chỉ định để điều trị rối loạn chức năng cương dương.Dược lựcViagra là một thuốc mới dùng đường uống để điều trị rối loạn cương dương, phục hồi chức năng cương dương suy yếu, gây đáp ứng tự nhiên khi có kích thích tình dục.Cơ chế sinh lý học của sự cương dương vật là do sự giải phóng nitrogen II oxyd (NO) ở thể hang khi có kích thích tình dục. Sau đó, Nitrogen II oxyd hoạt hóa enzym guanylate cyclase, kết quả là làm tăng guanosin monophosphate vòng (cGMP), làm giãn cơ trơn thể hang và tăng lưu lượng dòng máu đi vào thể hang.Sildenafil là chất ức chế chọn lọc và mạnh đối với enzym phosphodiesterase týp 5 đặc hiệu trên cGMP (PDE5), enzym này làm giáng hóa cGMP trong thể hang. Như vậy, Viagra có tác dụng gián tiếp trên sự cương dương vật. Sildenafil không có tác động gây giãn trực tiếp trên thể hang người được phân lập, nhưng thúc đẩy mạnh tác dụng gây giãn của NO trên mô này. Khi con đường NO/cGMP được hoạt hóa do kích thích tình dục, sự ức chế PDE5 bởi sildenafil làm tăng nồng độ cGMP trong thể hang. Vì vậy, cần phải có kích thích tình dục để Viagra có được các tác dụng dược lý thuận lợi.Liều uống duy nhất Viagra lên đến 100 mg ở những người tình nguyện khỏe mạnh không gây ra những ảnh hưởng lâm sàng trên điện tâm đồ. Trung bình giảm tối đa huyết áp tâm thu ở tư thế nằm sau khi uống 100 mg sildenafil là 8,4 mmHg. Sự thay đổi tương ứng của huyết áp tâm trương ở tư thế nằm là 5,5 mmHg. Sự giảm huyết áp này tương ứng với tác dụng giãn mạch của sildenafil, có lẽ do tăng nồng độ cGMP ở cơ trơn mạch máu.Viagra không ảnh hưởng trên độ nhạy và nhận biết tương phản của thị giác. Các thay đổi nhẹ và thoáng qua trong sự phân biệt màu (xanh dương/xanh lá cây) được phát hiện ở một số người sử dụng test màu sắc Farnsworth-Munsell 100, 1 giờ sau khi uống sildenafil 100 mg, không có bằng chứng ảnh hưởng sau 2 giờ dùng thuốc. Cơ chế của sự thay đổi phân biệt màu này liên quan tới sự ức chế của Viagra tới PDE6, một isoenzym liên quan tới chuỗi phản ứng với ánh sáng của võng mạc. Các nghiên cứu in vitro cho thấy sildenafil có tác động trên PDE5 10 lần mạnh hơn trên PDE6.Các nghiên cứu in vitro đã cho thấy tính chọn lọc của sildenafil trên PDE5 mạnh hơn từ 10-10000 lần so với các dạng PDE khác (PDE1, 2, 3, 4 và 6). Cụ thể, tính chọn lọc của PDE5 mạnh hơn PDE3 gấp 4.000 lần, PDE3 là đồng phân phosphodiesterase đặc hiệu trên cAMP liên quan đến việc kiểm soát sự co cơ tim.Các thông tin khác về nghiên cứu lâm sàng :Hiệu quả và tính an toàn của Viagra đã được đánh giá trong 21 nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có kiểm soát với placebo trong thời gian dài đến 6 tháng. Viagra được dùng ở hơn 3000 bệnh nhân tuổi từ 19-87, bị rối loạn cương dương do nhiều nguyên nhân khác nhau (thực thể, tâm lý, phối hợp). Hiệu quả được đánh giá bằng bảng câu hỏi lượng giá tổng quát, nhật ký cương dương, chỉ số chức năng cương quốc tế (the International Index of Erectile Function -IIEF) là một bộ câu hỏi về chức năng tình dục đã được định giá và bản câu hỏi cho người phối ngẫu.Hiệu quả của Viagra, xác định bằng khả năng đạt được và duy trì sự cương đủ để giao hợp, đã được chứng minh trong tất cả 21 nghiên cứu và hiệu quả vẫn được duy trì trong các nghiên cứu mở rộng thời gian dài (1 năm). Trong các nghiên cứu liều cố định, tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện chức năng cương là 62% (25 mg), 74% (50 mg) và 82% (100 mg) so với placebo là 25%. Thêm vào sự cải thiện chức năng cương dương, phân tích IIEF đã cho thấy rằng Viagra cũng cải thiện lĩnh vực cực khoái, sự hài lòng khi giao hợp và hài lòng về tình dục nói chung.Qua các thử nghiệm, tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện với Viagra là 59% ở bệnh nhân tiểu đường, 43% ở bệnh nhân cắt tuyến tiền liệt tận gốc và 83% ở bệnh nhân bị chấn thương cột sống (so với placebo tương ứng là 16%, 15% và 12%).Dược động họcHấp thu :Viagra được hấp thu nhanh chóng. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 30-120 phút (trung bình là 60 phút) sau khi uống lúc đói. Sinh khả dụng tuyệt đối đường uống trung bình là 41% (25-63%). Dược động học đường uống của Viagra tỷ lệ thuận với liều khuyến cáo (25-100 mg).Nếu dùng Viagra khi ăn nhiều mỡ, tỷ lệ hấp thu bị giảm, Tmax bị chậm trung bình khoảng 60 phút, Cmax bị giảm trung bình là 29%.Phân phối :Thể tích phân phối trung bình lúc ổn định (Vss) của sildenafil là 105 lít, cho thấy có sự phân phối vào các mô. Sildenafil và chất chuyển hóa chính trong tuần hoàn của nó là N-desmethyl, đều kết hợp khoảng 96% với protein huyết tương. Tỷ lệ kết hợp với protein huyết tương không phụ thuộc vào nồng độ toàn phần của thuốc.Ở những người tình nguyện khỏe mạnh, 90 phút sau khi uống Viagra (liều duy nhất 100 mg), có dưới 0,0002% (trung bình là 188 ng) của liều uống có mặt trong tinh dịch phóng ra.Chuyển hóa :Sildenafil chuyển hóa chủ yếu bởi các isoenzym CYP3A4 (đường chính) và CYP2C9 (đường phụ) ở micrôsôm gan. Chất chuyển hóa chính lưu hành trong huyết tương được hình thành từ phản ứng oxy hóa N-mất methyl của sildenafil. Khả năng chọn lọc của chất chuyển hóa này trên PDE tương tự như ở sildenafil, còn in vitro, thì khả năng ức chế PDE của chất chuyển hóa bằng khoảng 50% khả năng của thuốc ban đầu. Trong huyết tương, nồng độ chất chuyển hóa này bằng khoảng 40% nồng độ sildenafil. Chất chuyển hóa N-mất methyl còn tiếp tục được chuyển hóa, với thời gian bán thải cuối cùng là khoảng 4 giờ.Đào thải :Độ thanh thải tổng cộng của sildenafil trong cơ thể là 41 lít/giờ với thời gian bán thải cuối cùng là 3-5 giờ. Sau khi dùng thuốc bằng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch, sildenafil đều được bài tiết dưới dạng chất chuyển hóa, chủ yếu qua phân (khoảng 80% liều uống), và một tỷ lệ thấp hơn qua nước tiểu (khoảng 13% liều uống).Dược động học trong những trường hợp đặc biệt :Người cao tuổi :Ở người tình nguyện cao tuổi khỏe mạnh (từ 65 tuổi trở lên) có giảm thanh thải sildenafil, với nồng độ tự do trong huyết tương khoảng 40% cao hơn nồng độ ở những người tình nguyện khỏe mạnh trẻ (18-45 tuổi). Tuy nhiên, phân tích dữ liệu về tính an toàn đã cho thấy tuổi tác không ảnh hưởng tới mức độ của tác dụng ngoại ý.Suy thận :Ở người tình nguyện có suy giảm chức năng thận nhẹ (CLcr = 50-80 ml/phút) và vừa (CLcr = 30-49 ml/phút), không thấy có thay đổi về dược động học của liều uống duy nhất Viagra (50 mg). Ở người tình nguyện bị suy thận nặng (Clcr ≤ 30 ml/phút), thì độ thanh thải sildenafil có giảm đi, dẫn đến tăng AUC (100%) và Cmax (88%) so với ở những người tình nguyện cùng tuổi không bị suy thận.Suy gan :Ở người tình nguyện bị xơ gan (Child-Pugh A và B), độ thanh thải sildenafil giảm đi, do đó tăng AUC (84%) và Cmax (47%) so với ở những người tình nguyện cùng tuổi không bị suy gan.Số liệu về an toàn thuốc tiền lâm sàng :Viagra không cho thấy khả năng gây đột biến hay sinh ung thư. Ðiều trị rối loạn chức năng cương tức là không khả năng để hoàn tất hoặc duy trì sự cương của dương vật đủ để thực hành các động tác giao hợp toàn hảo ở người nam trưởng thành.Ðể thuốc có công hiệu cần phải có sự kích thích giới tính.

Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...
Đang cập nhật...

TOP